Home

User login

Thanh Qui

LỜI NÓI ĐẦU

          Phật dạy ba môn học là Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ. Văn tuệ là nghe hay học được nơi thầy, nơi thiện hữu tri thức. Nhờ học chúng ta mới hiểu biết được những điều cao quí do Phật dạy còn ghi chép trong Tam tạng giáo điển. Song chúng ta chỉ hiểu biết qua lời giảng dạy của thầy thì chưa thấm nhuần giáo lý nơi Tự tâm chúng ta. Cần phải có Tư tuệ, là sự tư duy suy gẫm những lời dạy của Phật cho tường tận thấu suốt thì chúng ta mới am tường mới thẩm thấu được. Tuy nhiên sau khi am tường lời dạy của Phật rồi, chúng ta còn phải ứng dụng lời dạy ấy vào đời sống hàng ngày của chúng ta là Tu tuệ. Như người bệnh trước phải nhờ thầy thuốc xem mạch, giải thích chứng bệnh cho bệnh nhân hiểu, kế đó bệnh nhân phải suy gẫm lời giải thích của thầy thuốc có đúng bệnh của mình hay không? Sau khi biết đúng phải mua thuốc về uống thì bệnh mới lành. Dù thầy thuốc xem mạch nói đúng, bệnh nhân suy gẫm hợp lý, mà không chịu mua thuốc về uống thì bệnh nhân không bao giờ được mạnh. Cũng thế, có Văn, Tư mà không Tu thì chúng ta không khi nào hết khổ. Mục đích của bản Thanh qui này là nhằm tạo điều kiện cho Tăng, Ni sau khi có Văn, Tư rồi thực hiện Tu cho có kết quả tốt.

          Sự tu của chúng ta thể hiện qua ý nghĩ, lời nói, hành động một cách cụ thể bằng pháp Lục hòa. Đồng thời phải buông bỏ hết những nghiệp chướng quá khứ và hiện tại. Chúng ta phải giữ mười giới làm căn bản. Để được thích nghi với nếp sống Thiền viện và vui vẻ với huynh đệ, chúng ta phải tuân giữ những điều phụ của Nội qui. Muốn cho sự tu hành được thăng tiến, chúng ta mỗi đêm phải thành tâm sám hối cho tội lỗi nhiều kiếp và đời này đều trong sạch…

          Trọng tâm của Thiền viện là tu Thiền. Tất cả Thiền sinh ở đây lấy Thiền làm mạng sống. Vì thế, trong bốn oai nghi Thiền sinh lúc nào cũng tỉnh giác, song thực hiện trọn vẹn hơn là những giờ tọa thiền. Thiền mà Thiền viện tu tập là Thiền tông qua sự đúc kết của Tổ Huệ Khả, Tổ Huệ Năng và Tổ Trúc Lâm. Do đó bản Thanh qui này ra đời để áp dụng chung cho các Thiền viện.

Ngày mồng 8 tháng 2 Kỷ Mão
(25/03/1999)

THÍCH THANH TỪ

NỘI QUI


LỜI MỞ ĐẦU

Với tinh thần Trúc Lâm Đại Đầu-đà, Thiền sinh tại Thiền viện phải đủ ba đức tánh: dứt khoát, kiên quyết và đạm bạc.

          1- Tính dứt khoát là, Đời ra đời Đạo ra đạo, tu phải đến nơi đến chốn; không thể có thái độ lưng chừng, mà phải quyết chí tu đến sáng đạo mới được.

          2- Tính kiên quyết là, dù khó khăn chướng ngại do ngoại cảnh hay bản thân tạo ra, đều khẳng định vượt qua. Cương quyết thực hiện kỳ được giải thoát viên mãn mới thôi.

          3- Tính đạm bạc là, cuộc sống đạm bạc giản dị, không chấp nhận mọi thụ hưởng xa hoa. Bản chất thanh đạm là đời sống của Thiền sinh ở các Thiền viện.


I. Tuân hành lục hòa:

Lục hòa là chất keo gắn chặt lâu bền các Thiền sinh chung sống tu hành tại Thiền viện. Lục hòa cũng là nền tảng vững chắc của đoàn thể Tăng.

          1. Thân hòa đồng trụ:
          Về phần thân, ăn, mặc, ngủ nghỉ và công tác, tất cả Thiền sinh đều hòa đồng nhau.

          2. Khẩu hòa vô tránh:
          Về phần miệng, luận bàn nói chuyện Thiền sinh phải dùng lời hòa nhã, không lớn tiếng cãi rầy.

          3. Ý hòa đồng duyệt:
          Đối đãi nhau, Thiền sinh tâm ý phải vui hòa, không cố chấp phiền hận.

          4. Giới hòa đồng tu:
          Tất cả Thiền sinh trong Thiền viện đều giữ 10 giới làm căn bản và sống đúng nội quy.

          5. Kiến hòa đồng giải:
          Sống chung nhau, Thiền sinh có những hiểu biết đều giải bày cùng nhau, đồng hiểu đồng cảm thông, không nên có thành kiến riêng tư.

          6. Lợi hòa đồng quân:
          Tất cả tài sản quyền lợi trong Thiền viện là của chung của những Thiền sinh hiện có mặt, cần phải chia đồng đều nhau, không ai có quyền nhận giữ riêng.


II. Giới luật

Giới luật là nền tảng đạo đức, cũng là gốc của cây thiền định và hoa quả trí tuệ.

A. GIỚI CĂN BẢN:
Thiền sinh tại Thiền viện giữ mười giới làm trọng tâm:

          1. Không sát sanh (ngoại trừ làm công tác vô tâm phạm đến sinh mạng chúng sanh).

          2. Không trộm cắp.

          3. Không dâm dục.

          4. Không nói dối.

          5. Không uống rượu.

          6. Không dùng dầu thơm, các chất thơm xoa mình và không đeo đồ trang sức.

          7. Không nghe nhạc và tự hát múa. (trừ trường hợp nhạc đạo)

          8. Không nằm giường đẹp rộng lớn.

          9. Không ăn phi thời. (vì công tác hai buổi, giới nầy không thể giữ được).

          10. Không giữ tiền bạc và châu báu. (trừ trường hợp đi đây kia và giữ tiền cho chúng)


B. GIỚI THƯỢNG THỪA:

          Thiền sư Pháp Loa dạy: Trong hai mươi bốn giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không dấy động. Tâm không dấy động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cảnh khởi phân biệt, thức không vì pháp trần mà dính mắc. Ra vào không giao thiệp gọi là ngăn dừng. Tuy gọi ngăn dừng mà chẳng phải ngăn dừng. Nên biết tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế. Đây gọi là giới Đại thừa, gọi là giới Vô thượng, cũng gọi là giới Vô đẳng đẳng. Tịnh giới này dù Tiểu tăng cho đến Đại tăng đều phải gìn giữ.

C. QUI CHẾ PHỤ:

Những qui chế phụ này giúp Thiền sinh dành trọn thời giờ trong việc tu hành và tránh khỏi những lỗi nhỏ hoặc vô tình hay cố ý.

          1. Thiền sinh hạn chế tối thiểu sự đi lại, trừ trường hợp bệnh nặng phải đi trị bệnh, hoặc thầy Bổn sư bệnh nặng hay tịch, cha mẹ bệnh nặng hay chết và vài trường hợp đặc biệt khác.

          2. Để giữ giới thứ chín, Thiền sinh được thân nhân hay thí chủ ủng hộ tiền bạc, hoặc đi đâu về tiền còn dư đều phải gửi Thủ bổn giữ để phòng khi bệnh hoạn.

          3. Thân nhân đến thăm, Thiền sinh chỉ tiếp khách tối đa ba mươi phút tại nhà khách. Nếu thân nhân còn ở lại, đều do Tri khách sắp đặt mọi việc.

          4. Nhận một trách nhiệm gì trong Viện, Thiền sinh phải tận tình làm cho được vuông tròn, không được làm cầm chừng lấy có.

          5. Mọi thời khóa tu công cộng tại Thiền viện, Thiền sinh không được vắng mặt hoặc trễ nải, trừ có trách nhiệm đặc biệt hoặc bệnh.

          6. Giờ Thỉnh nguyện, Thiền sinh không được đến trễ và xuống sớm trừ có công tác cho chúng.

          7. Khi lao tác chung hoặc riêng, Thiền sinh sẵn sàng tương trợ nhau, khi thấy huynh đệ làm công việc nặng nhọc hơn, hoặc trễ nải hơn, không được vô tình làm ngơ để mặc.

          8. Phải tiết kiệm tài sản của Thiền viện bằng mọi cách, không nên phung phí.

          9. Không được đi đâu quá thời hạn đã xin phép. Nếu có việc bất ngờ xảy ra, phải gởi thơ hoặc điện thoại về xin phép thêm.

          10. Thiền sinh nếu không muốn ở Thiền viện, xin phép ra đi tự do không cần điều kiện gì cả. Không được ở đây mà có tâm hướng ngoại. Nếu đi rồi thì không được trở lại.

D. KẾT THÚC:

          Phần lục hòa và năm giới trước thuộc về chánh, Thiền sinh phạm một trong những giới chánh này tùy mức độ nặng nhẹ, nếu nặng thì tự xấu hổ xin rút lui khỏi Viện, nếu nhẹ tự xin sám hối với Ban lãnh đạo và toàn chúng. Năm giới sau và Qui chế phụ là phần phụ, Thiền sinh nếu phạm thì tự thấy lỗi xin sám hối, hoặc Ban chức sự hay huynh đệ thấy nhắc cũng sẵn sàng sám hối. Song một lỗi mà Thiền sinh phạm nhiều lần cũng tự xấu hổ xin rút lui khỏi Thiền viện.

~ ~ ~

ĐIỀU LỆ DÀNH CHO KHÁCH

Khách đến Thiền viện gồm có khách hành hương, tham quan và khách ở lại. Tất cả khách đều giữ nghiêm trang lịch sự khi đến Thiền viện.

1. Khách hành hương và tham quan: Thiền viện chia làm hai phần, Nội viện và Ngoại viện. Khách hành hương và tham quan chỉ ở phần Ngoại viện. Trừ khi khách muốn nghiên cứu về đường lối tu hành của Thiền viện, phải nhờ thầy Tri khách xin phép, sau đó mới được dẫn vào Nội viện.

2. Khách ở lại Thiền viện ngắn hạn: Nếu khách đến thăm thân nhân hoặc đến nghiên cứu, chỉ được ở lại không quá bảy ngày.

3. Khách ở lại dài hạn: Một là khách ở lại thực tập tu dài hạn tại nhà khách. Hai là khách ở lại xin nhập thất. Hai hạng khách này được ở lại Thiền viện không quá ba tháng. Trừ trường hợp tu hành khá đắc lực, muốn xin thêm thời gian tu học cho được mỹ mãn, phải do Hòa thượng Viện trưởng quyết định.

4. Khách Ni và Phật tử nữ tuyệt đối không được ở lại đêm nhà khách Tăng và ngược lại cũng thế.



-----------------------------------

Để đọc Thanh Qui nguyên bản (Thường Chiếu):
Thanh Qui - Thích Thanh Từ