Posts

Thuần Chánh      

Mới đây thôi, khi học đến phẩm An Lạc Hạnh trong kinh Pháp Hoa, chúng tôi thảo luận về sự bố thí và nhắc đến thái tử  Tu-đại-noa. Cái gút nằm ở chỗ Thái tử cho hai đứa trẻ và công chúa.

            Từ lúc biết đọc truyện cổ tích Phật giáo, tôi đã không thích câu chuyện này ở cái gút đó. Thái tử phát tâm bố thí, ông muốn cho lâu đài, thành quách, châu báu gì thì cứ việc cho, có muốn bố thí sinh mạng ông cho tròn hạnh nguyện cũng được, tôi không nói tới.

Nhưng cho hai đứa trẻ và công chúa là điều không thể chấp nhận. Cho vợ con là việc làm vô nhân bản, không thể coi hai trẻ và công chúa như một vật vô tình sở hữu. Và tôi không ưa được đoạn oái ăm đó, một đoạn lý đáng rất cảm động.

Bài viết

Như Đức

Khu vườn có nhiều tiếng chim. Chúng có thời khắc nhất định trong ngày, chịu khó để ý sẽ nghe. Buổi sáng mát mẻ, tiếng chim chích chòe lanh lảnh dồn dập: “Ngồi yên hết trơn”, “Ngồi yên quá tay”, “Vọng tưởng chút chút thôi”, “Đừng đi quá xa”. Giữa những đoạn ngắn, đôi khi chúng tuông ra một tràng: “Đôi khi cũng muốn đi lòng vòng”, “Đôi khi cũng muốn đi về nhà”… Dĩ nhiên đây là diễn dịch của người nghe, ai có trong tâm chuyện gì thì nghe ra chuyện đó.       

Thỉnh thoảng có giọng chim trầm trầm đều đều chen vào đổi tông. Không biết tại sao người ta gọi nó là chim Mồ Côi, để dịch tiếng hót đổ hồi của nó thành ra: “Père, mère, frère tout est perdu” (Nghĩa là: Cha, mẹ, anh em tất cả đều mất). Đây ắt là qua lỗ tai của một người Pháp xa xứ, cô đơn hay sao mà cho tiếng hót có nghĩa như thế. Nhân đây lại nhớ đến tiếng cắc kè. Thường buổi tối, ở góc nhà thường vang lên: “Cắc kè è è è…” Nhân tiếng đó mà người ta đặt tên, còn mấy cái âm è è ở sau nghe tức cười. Nhưng có người nói, hồi ở ngoài Bắc mới vào, nghe nó kêu như nhắc mình: “Bắc kỳ, Bắc kỳ” nhớ nhà chịu không nổi. Rồi có người cãi, tại nghe như vậy chứ rõ ràng nó kêu “Tắt đèn, tắt đèn”, chắc biểu mình hà tiện điện.      

Bài viết

Như Đức

Khi tôi cho xây lại bờ con suối, chỗ bị nước xói mòn hư hao nghiêm trọng, tôi có cảm giác như mình phạm một lầm lỗi với thiên nhiên. Phía bờ đối diện vẫn còn bờ đất thô sơ, mấy cây dừa bụi tre an nhàn, và một dãy sen mọc lân la bên bờ cỏ gần nước. Vậy mà bên này đại chúng vẫn hì hục tấn đá, đổ đất, đổ cột beton – Viễn cảnh sẽ có một bờ rào bằng lưới B40 bao quanh, tăng vẻ kiên cố chắc chắn lạnh lùng, và mấy chùm hoa khế không có dịp thò đầu vươn cánh nhìn xuống nước.      

Một thời bình an trôi qua. Bên mé suối cạn lửng lờ, cô bé em của Huệ Đức ngồi giặt đồ và ca hát véo von. Bờ còn hẹp, hai cây tre bắc ngang song song đủ cho mấy cô ngồi thòng chân, rửa sạch bùn đất từ mép quần công tác, sau đó phơi khô khỏi giặt giũ. Mấy con sóc chạy lăng quăng chỗ cây dẻ già to tướng, hai tay ôm bận bịu cất giấu thức ăn. Chim chóc thì véo von đủ kiểu. Chúng có ngôn ngữ của một miền yên tĩnh, không bận tâm nhiều cho một khoảng đời chẳng lâu dài lắm. Từng thứ ấy, cây rừng, bờ nước, trời đêm ngút ngàn sao đã nuôi dưỡng vỗ về chúng tôi một thuở.      

Bài viết

Như Đức

( Trích Tuần Báo Giác Ngộ số 102)

Tôi có tự hứa sẽ viết bài để mừng tuổi Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh 300 năm. Những lần đi về thành phố định tìm một vài cảm hứng, vào mùa nắng, nóng quá, tàn cây xanh chỉ đủ che mát một khoảng nào đó, chưa kịp nhập đề. Vào mùa mưa, đường phố bỗng dưng thành con suối, văn chương cũng trôi luôn. Sài Gòn không có gì thơ mộng để khi rời nó, người ta còn một chút gì lưu luyến như Đà Lạt, như Huế, như Hà Nội; chỉ thấy khỏe ra khi xe bắt đầu tách bến. Vậy mà khi ở xa, mỗi lần thấy chiếc xe đò có chú lơ thò đầu ra ngoài cửa la lớn ”… Gòn hông ? … Gòn hông ?”, tôi lại có cảm giác muốn bước lên xe.

Tôi không phải chính gốc người Sài Gòn. Ông ngoại tôi là ông đồ xứ Quảng. Nhằm thời ”ông nghè ông cống cũng nằm co”, những chàng thư sinh lỡ vận như ông không thể cấy tứ thư, ngũ kinh xuống ruộng, cũng không thể làm thợ… nên phải làm thầy đồ nho lưu động. Nghe người quen giới thiệu, ông vào Sài Gòn tìm được chỗ dạy học ở nhà mấy ông hương chức. Đó là vào thập niên thứ hai của thế kỷ này. Sài Gòn đất rộng làm ăn dễ dàng, ông nhắn bà ngoại tôi vô luôn. Đi bằng ghe bầu, má tôi còn nhớ tên ông chủ ghe là ông Lữ, người cùng quê. Má tôi kể, khi ghe ra biển, người lớn say sóng nằm mẹp; chỉ có con nít như má tôi và mấy đứa con ông Lữ ôm nhau lăn tròn trên sàn ghe, cười đùa thỏa thích.

Bài viết

Thuần Chánh

Đời tôi có ba lần đáng nhớ:

oOo

Lần đầu khi ông chú thân với gia đình tôi về phép, ông ghé qua cho biết ngày mai sẽ đến chơi với chúng tôi.

Cả ngày hôm đó chúng tôi lăng xăng dọn dẹp, chuẩn bị ngày mai đón chú. Cái ngày mai đó, mỗi một tiếng động ở cửa là tôi ngóng cổ ra – có lẽ chú đến. Niềm đợi chờ tắt dần theo ngày. Tôi tự nghĩ, có lẽ chú bận chuyện gì quan trọng lắm mới thất hứa với gia đình tôi, mai chú sẽ đến. Và ngày mai, ngày mai nữa… lịch được đếm từng tờ. Chúng tôi không dám đi chơi đâu hết, sợ chú đến không gặp. Chờ từng ngày, đến hai năm sau thì chú đến, chuyện qua khúc quanh khác. Và ở đây tôi không định kể chuyện đó. Năm đó, tôi học đệ tam.

Bài viết

Thuần Chánh

Hồi nhỏ, không biết lúc mấy tuổi, tôi đã ngồi bên hiên nhà, vẽ nguệch ngoạc cái bàn cờ ”con chó”.

Bàn cờ rất đơn giản, chỉ là một hình vuông với hai đường chéo và có đánh dấu một cạnh hình vuông làm con chó. Mỗi bên một viên gạch. Một bên là chủ nhà, một bên là tên học trò bị rượt chạy vòng vòng, hễ quên đi qua đường răng cưa (như hình vẽ) thì bị chó cắn. Thua. Chơi lại bàn mới. Một ván cờ chẳng phải suy nghĩ tính toán, không phải vì hết cách đi mà phải chịu đi ngang đường răng cưa đó, chỉ vì đi tới đi lui rồi quên lại đi qua chỗ con chó để bị cắn, bị thua cuộc. Và tuổi nhỏ chưa biết suy tính chỉ có thể vẽ bàn cờ đó chơi mà không thấy chán.

Lớn hơn một chút, tôi biết chơi cờ gánh. Cờ có hai bên. Một bên là hai ông tướng, một bên là 14 quân bằng đá xanh hay nắp khoén. Quân chỉ có quyền chận đường tướng, làm sao cho hết đường lui tới, không có quyền gánh. Tướng có quyền gánh khi đi vào giữa hai tên quân, và ”gánh” cho tới khi quân hết lần… quân chịu thua. Tôi đã biết suy nghĩ một chút để chận đường tướng khi nắm quân hoặc tìm cách ”gánh” khi nằm bên tướng.

Bài viết

Thuần Chánh

Truyện kể rằng: ”Tổ Ưu-bà-quật hàng phục được thiên ma. Tổ bảo thiên ma hóa hiện Phật và các Thánh chúng cho Tổ xem. Thiên ma vâng lời xin Tổ khi thấy Phật nhớ đừng lạy ma thiên tổn phước. Tổ hứa lời. Trong giây phút, từ trong rừng đi ra, đức Phật thân vàng rực rỡ, 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, cùng các vị đệ tử oai nghi tề chỉnh. Tổ hết sức vui mừng, đứng dậy kính lễ”.

Đọc xong truyện tôi tức mình, Tổ đã biết trước, sao còn để bị gạt, phải không biết thì lầm lẫn cũng phải đi, đâu mà vô lý như vậy. Tôi phải đón xe đò từ Sài Gòn ra Vũng Tàu, leo núi lên Chơn Không, mà hỏi Thầy cho ra lẽ.

Bài viết

Thuần Tuệ

Đêm ấy trời mưa to. Gió từng hồi thổi tung cả rường nhà. Đôi cánh cửa gỗ trên gác chánh điện chuyển mình cọt kẹt.  Hai ngọn đèn leo lét trên bàn Phật chập chờn chực tắt. Ngoài sân, gió rít qua tàn lá cây đập sàn sạt từng hồi. Mưa như trút nước.

Sư cụ cầm đèn bước lên chiếc thang gỗ ọp ẹp. Mưa tạt ước cả sàn gỗ ngôi chánh điện, chỉ còn một khoảng nhỏ trước bàn Phật. Sư cụ dâng hương rồi quỳ xuống tụng kinh. Tiếng chuông mõ chìm lẫn trong tiếng mưa gió.

Ngôi chùa có mặt nơi vùng đất Hóa – Châu này cùng lúc với đám di dân. Họ là dân tứ xứ, theo lệnh triều đình đến khai phá vùng đất hai châu Ô và Rí, đến đây dựng chùa như dựng lại niềm tin để nương tựa như những ngày tháng lưu lạc gian truân. Ngôi chùa nghèo như dân cư quanh vùng. Sư cụ trụ trì chùa này đã mười năm dư. Chánh điện là một căn gác nhỏ, có hai tượng Phật lớn tạc bằng gỗ. Đặc biệt, chiếc hồng chung không lớn lắm nhưng tiếng rất tốt. Chiều chiều, tiếng chuông ngân nga vang xa, làm ấm lòng người dân xa xứ.

Bài viết

Như  Đức

Viên Chiếu ăn cái Tết nầy nữa là thứ hai mươi hai. Hãy nhớ lại cái Tết đầu tiên của nó. Đêm trong rừng, không nấu bánh, không mai đào, chỉ có một cành dấm, thứ cây mọc trong rừng, lá chua như dấm, có trái hay bông màu đỏ tròn, được dân nhà nghèo chặt về chưng Tết. Ngồi với nhau chung quanh đống lửa trại, tưởng như mình đang ở vào thời hoang sơ nào đó, ca hát mặc tình, ai thức không nổi có thể nằm trên gác, thò đầu qua cửa sổ vui hùn. Ngày mùng một, tiếng chim rộn ràng mừng tuổi, cũng không cần để ý là mình 29 hay 30. Một bầy dẫn nhau ra Thường Chiếu. Thường Chiếu còn những vạt cỏ tranh, ngọn gió đông thổi héo tàn bông cỏ dại, một ngôi chùa tôn vách đất với mấy đứa trẻ con đi ra, đi vô. Thanh bình vô số kể.

Sáng nay, 28 tháng Chạp năm Bính Tý, mấy đại diện các Chiếu cùng với thầy Trụ Trì Thường Chiếu đi Chơn Không. Hình như thầy cũng nhắc về một thời bình an, một thời Tết không nhiều việc của ngày xưa. Con đường qua Bát Nhã bị cây rừng phủ lối, tôi và Giải Thiện đứng nhìn, mong tìm lại được một vài nét quen thuộc. Nhớ gì về một thời. Tâm thức nửa muốn lên tiếng, nửa muốn trả lại hư vô. Về Viên Chiếu gần 12 giờ trưa, phải thuê một chiếc Honda đưa vào, trên con đường mà chúng tôi đã từng đi bộ mòn gót, bây giờ …

Bài viết

Như Đức

Hồi đó trong sân chùa chúng tôi có một cây mận. Dáng cao lớn chắc chắn, có vẻ nó đã có mặt ở đây rất lâu, trước khi chúng tôi đến. Mỗi ngày đại chúng đi qua khoảng sân này nhiều lần, lên lớp học, lên chùa tụng kinh, và đặc biệt cây mận nằm gần LIÊU CHỨC SỰ nghĩa là nơi mà bọn nhỏ Sa-di rất sợ, vì hay bị gọi lên rầy rà. Có lẽ vì thế mỗi khi cây mận ra hoa trổ trái, chúng Sa-di đều hay. Hồi đó bánh kẹo không nhiều như bây giờ, vườn chùa chỉ có cây mận này và cây sa pô chê là gần tầm tay. Cây dừa ở sân sau, trái để dành nấu chè, nấu kiểm cúng rằm, không phải là thứ quà ăn vặt. Xoài thì lén hái cũng được, nhưng giới thứ hai đã cảnh báo, một ông Sa-di trộm bánh tráng chết đọa địa ngục ôm cái bánh lửa. Me thì tự do, nhưng quá cao và quá xa. Cây mận không quan trọng, nhiều khi trái rụng còn không ai để ý.

Minh Ngọc thường lân la gần cây mận, cầm cây khoèo dài để hái những chùm trái phía trên. Hắn không bao giờ ăn một mình, đem về chia trong liêu, bỏ trên đầu giường đứa này đứa nọ. Nhiều khi vừa cầm cuốn tập trên lớp xuống phòng, thấy mấy trái mận chín có một hai lá xanh trên cuống, như một món quà thân ái, bọn nhỏ Sa-di mừng rỡ, vui tươi ra mặt. Nhờ tánh thảo ăn như vậy, Minh Ngọc được đồng liêu ủng hộ, đôi lúc hùa theo mấy trò đùa nghịch ngợm, và lẽ dĩ nhiên cũng có lúc bị phạt quỳ hương hết cả đám. Một lần, trong ba tháng an cư, buổi tối sau 9 giờ thường có thời tịnh niệm tại đơn, mỗi người ngồi yên niệm Phật, Ni sư Tri chúng đi tuần liêu, kiểm soát hết từ liêu trên đến liêu dưới thì vừa đúng nửa giờ. Đèn trong phòng vặn rất thấp, Ni sư bước nhẹ nhàng, nếu ai ngồi ngủ thì Ni sư đến bên giường cũng không hay. Minh Ngọc nghĩ ra một kiểu báo động bằng cách để cái lon sữa bò không ngay giữa cửa liêu, Ni sư bước vào chắc sẽ đạp nhằm… Báo hại cả liêu hồi hộp theo dõi suốt thời tịnh niệm. Chẳng có một tiếng động nào vang lên, Ni sư bước vào rồi buớc ra. Chuông xả vừa vang lên là Minh Ngọc phóng đến cửa, cái lon còn y nguyên. Thử tưởng tượng nếu Ni sư vấp chân đêm đó, chắc cả liêu lại được dịp quỳ hương.

Bài viết